Sau khi một người nào đó được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú, các bác sĩ sẽ cố gắng đánh giá mức độ xâm lấn của khối u đã lan rộng đến những vị trí nào trên cơ thể. Quá trình này được gọi là giai đoạn. Giai đoạn ung thư mô tả mức độ ung thư trong cơ thể, hỗ trợ cho bác sĩ xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh cũng như đưa ra được phương pháp điều trị tốt nhất cho từng trường hợp. Các bác sĩ thường sử dụng giai đoạn ung thư trong thống kê tỷ lệ sống sót của bệnh.
Hệ thống phân giai đoạn được sử dụng ở ung thư vú nam giới cũng tương tự như hệ thống được sử dụng cho bệnh ung thư vú ở phụ nữ.
Giai đoạn sớm nhất của ung thư vú là giai đoạn 0 (ung thư biểu mô tại chỗ). Sau đó, là từ giai đoạn I (1) đến IV (4). Theo quy định, con số càng thấp, thì ung thư càng ít di căn. Ví dụ, một con số cao hơn như giai đoạn IV nghĩa là ung thư đã lan rộng đến nhiều bộ phận khác. Và trong một giai đoạn, có chữ cái đặt trước số có nghĩa là giai đoạn thấp hơn.
Giai đoạn được xác định như thế nào?
Hệ thống phân giai đoạn thường được sử dụng cho bệnh ung thư vú là hệ thống TNM của Ủy ban Ung thư Hoa Kỳ (American Joint Committee on Cancer - AJCC), dựa trên 7 phần thông tin chính:
- Mức độ (kích thước) của khối u (T): Ung thư lớn đến mức nào? Nó đã phát triển sang các khu vực lân cận chưa?
- Sự lây lan đến các hạch bạch huyết lân cận (N): Ung thư có di căn đến các hạch bạch huyết lân cận không? Nếu có, thì đã lan bao xa?
- Sự lây lan (di căn) đến các vị trí xa (M): Ung thư đã di căn đến các cơ quan ở xa như phổi hoặc gan chưa?
- Tình trạng thụ thể Estrogen (Estrogen Receptor - ER): Ung thư có protein thụ thể kích thích Estrogen hay không?
- Tình trạng thụ thể Progesterone (Progesterone Receptor - PR): Ung thư có protein thụ thể kích thích Progesteron hay không?
- Tình trạng Her2 (thụ thể yếu tố phát triển biểu mô 2): Ung thư tạo ra quá nhiều protein thì được gọi là Her2 hay không?
- Mức độ ung thư (G): Có bao nhiêu tế bào ung thư giống như tế bào bình thường?
Kết quả điểm tái phát Oncotype Dx® cũng có thể được sử dụng để xác định giai đoạn ung thư trong một số trường hợp nhất định.
Hệ thống AJCC gần đây nhất, có hiệu lực vào tháng 1 năm 2018, có cả hệ thống phân giai đoạn bệnh lý và lâm sàng cho bệnh ung thư vú. Giai đoạn bệnh lý (còn gọi là giai đoạn phẫu thuật) được xác định bằng cách kiểm tra mô được loại bỏ trong một cuộc phẫu thuật. Đôi khi, nếu không thể phẫu thuật ngay hoặc cắt bỏ hoàn toàn tuyến vú, thì ung thư sẽ được chuyển sang giai đoạn lâm sàng. Điều này dựa trên kết quả khám sức khỏe, sinh thiết và xét nghiệm hình ảnh. Giai đoạn lâm sàng được sử dụng để giúp lập kế hoạch điều trị. Tuy nhiên, đôi khi, đối với những ung thư đã xâm lấn rộng hơn so với ước tính của giai đoạn lâm sàng, thì không thể dự đoán tiên lượng của bệnh nhân chính xác như giai đoạn bệnh lý.
Các số hoặc chữ cái sau T, N và M sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết về từng yếu tố này. Con số cao hơn có nghĩa là bệnh ung thư tiến triển hơn. Sau khi các danh mục T, N và M của một người, cũng như tình trạng ER, PR, HER2 và mức độ ung thư đã được xác định, thông tin này được kết hợp trong một quá trình được gọi là phân nhóm giai đoạn để chỉ định một giai đoạn tổng thể.
Chi tiết về hệ thống giai đoạn TNM
Phân loại T của ung thư vú
Theo sau T là một số từ 0 đến 4 mô tả kích thước của khối u chính và nếu khối u đã lan ra da hoặc đến thành ngực dưới vú. Số T cao hơn có nghĩa là một khối u lớn hơn hoặc đã lan rộng hơn đến các mô gần vú.
TX: Không đánh giá được khối u nguyên phát.
T0: Không có bằng chứng về khối u nguyên phát.
Tis: Ung thư biểu mô ống tại chỗ (DCIS, hoặc bệnh Paget của núm vú không có khối u liên quan).
T1 (bao gồm T1a, T1b và T1c): Khối u có chiều ngang từ 2 cm (3/4 inch) trở xuống.
T2: Khối u trên 2 cm nhưng không quá 5 cm (2 inch).
T3: Khối u có bề ngang trên 5 cm.
T4 (bao gồm T4a, T4b, T4c và T4d): Khối u có kích thước bất kỳ phát triển ở thành ngực hoặc da. Điều này bao gồm ung thư vú dạng viêm.
Phân loại N của ung thư vú
Theo sau N là một số từ 0 đến 3 cho biết ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết gần vú hay chưa và nếu có thì chúng đã xâm lấn bao nhiêu hạch bạch huyết.
Việc xác định giai đoạn ung thư vú dựa trên việc kiểm tra các hạch bạch huyết dưới kính hiển vi, nhưng việc kiểm tra này đã có nhiều thay đổi khi công nghệ được cải tiến. Các phương pháp mới hơn đã phát hiện thấy các tập hợp tế bào ung thư siêu nhỏ, nhưng các chuyên gia vẫn chưa xác định được mức độ ảnh hưởng của tế bào ung thư siêu nhỏ này có gây ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh hay không.
Vẫn chưa rõ số lượng ung thư trong hạch bạch huyết có phải là yếu tố cần thiết để thấy sự thay đổi trong tiên lượng bệnh hoặc phương pháp điều trị. Điều này vẫn đang được nghiên cứu, nhưng hiện tại, một lượng tế bào ung thư phải chứa ít nhất 200 tế bào hoặc có chiều ngang ít nhất 0,2 mm (dưới 1/100 inch) để chúng chuyển sang giai đoạn N. Đối với những khu vực lây lan khối u hơn 0,2 mm (hoặc ít hơn 200 tế bào) không thay đổi giai đoạn, nhưng được ghi bằng chữ viết tắt (i + hoặc mol +) thì sẽ cho biết loại xét nghiệm đặc biệt được sử dụng để tìm ra sự lây lan.
Nếu khu vực lây lan của ung thư ít nhất là 0,2 mm (hoặc 200 tế bào), nhưng vẫn không lớn hơn 2 mm, chúng được gọi là các khối u nhỏ ở vị trí mới (một mm có kích thước bằng chiều rộng của hạt gạo). Micrometastases (các khối u nhỏ ở vị trí mới) chỉ được xác định nếu không có bất kỳ khu vực nào lớn hơn của ung thư lây lan. Các khu vực ung thư lan rộng hơn 2 mm sẽ gây ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh và làm thay đổi giai đoạn N. Đôi khi, những khu vực lớn hơn này được gọi là macrometastases, nhưng thường chỉ được gọi là di căn.
NX: Không thể đánh giá các hạch bạch huyết lân cận (ví dụ, nếu chúng đã bị cắt bỏ trước đó).
N0: Ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết lân cận.
N0(i+): Vùng ung thư xâm lấn chứa ít hơn 200 tế bào và nhỏ hơn 0,2 mm. Chữ viết tắt "i +" có nghĩa là một số lượng nhỏ tế bào ung thư (được gọi là tế bào khối u cô lập) được nhìn thấy trong các vết nhuộm của kỹ thuật xét nghiệm thông thường hoặc khi một loại kỹ thuật xét nghiệm đặc biệt, được gọi là hóa mô miễn dịch, được sử dụng.
N0(mol+): Không thể nhìn thấy tế bào ung thư trong các hạch bạch huyết dưới cánh tay (ngay cả khi sử dụng các kỹ thuật đặc biệt), nhưng dấu vết của tế bào ung thư được phát hiện bằng kỹ thuật gọi là RT-PCR. RT-PCR là một xét nghiệm phân tử có thể tìm thấy số lượng rất nhỏ tế bào ung thư. (Xét nghiệm này ít khi được sử dụng để tìm tế bào ung thư vú trong các hạch bạch huyết vì kết quả không ảnh hưởng đến quyết định điều trị).
N1: Ung thư đã lan đến 1 đến 3 (các) hạch bạch huyết ở nách (dưới cánh tay) và một lượng nhỏ ung thư được tìm thấy trong các hạch bạch huyết bên trong tuyến vú (gần xương vú) khi sinh thiết hạch bạch huyết.
N1mi: Micrometastases (các khối u nhỏ ở vị trí mới) trong các hạch bạch huyết dưới cánh tay. Các khu vực ung thư lan rộng trong các hạch bạch huyết có chiều ngang ít nhất 0,2mm, nhưng không lớn hơn 2mm.
N1a: Ung thư đã lan đến 1 đến 3 hạch bạch huyết dưới cánh tay với ít nhất một vùng ung thư có chiều ngang lớn hơn 2 mm.
N1b: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết bên trong tuyến vú cùng bên với ung thư, nhưng sự lây lan này chỉ có thể được phát hiện khi sinh thiết hạch bạch huyết (chúng không làm cho các hạch bạch huyết to ra).
N1c: Áp dụng cả N1a và N1b.
N2: Ung thư đã di căn đến 4-9 hạch bạch huyết dưới cánh tay, hoặc ung thư xâm lấn các hạch bạch huyết bên trong tuyến vú.
N2a: Ung thư đã lan đến 4 đến 9 hạch bạch huyết dưới cánh tay, với ít nhất một vùng ung thư xâm lấn hơn 2 mm.
N2b: Ung thư đã lan đến một hoặc nhiều hạch bạch huyết bên trong tuyến vú, khiến chúng trở nên to ra.
N3: Bất kỳ điều nào sau đây:
N3a: Một trong hai:
Ung thư đã lan đến 10 hoặc nhiều hạch bạch huyết ở nách, với ít nhất một vùng ung thư lan rộng hơn 2 mm,
HOẶC LÀ
Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết dưới xương đòn (hạch cổ), với ít nhất một vùng ung thư xâm lấn hơn 2 mm.
N3b: một trong hai:
Ung thư được tìm thấy trong ít nhất một hạch bạch huyết ở nách (với ít nhất một vùng ung thư xâm lấn hơn 2 mm) và các hạch bạch huyết đã lan rộng bên trong tuyến vú,
HOẶC LÀ
Ung thư đã lan đến 4 hoặc nhiều hạch bạch huyết ở nách (với ít nhất một khu vực ung thư xâm lấn hơn 2 mm) và một lượng nhỏ ung thư được tìm thấy trong các hạch bạch huyết bên trong tuyến vú khi sinh thiết hạch bạch huyết.
N3c: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết phía trên xương đòn (hạch thượng đòn) với ít nhất một vùng ung thư lan rộng hơn 2 mm.
Phân loại M của ung thư vú
Theo sau M là 0 hoặc 1 giúp bạn nhận biết liệu ung thư đã di căn đến các cơ quan ở xa hay chưa - ví dụ: phổi, gan hoặc xương.
MX: Không đánh giá được sự xâm lấn (di căn).
M0: Khi chụp X-quang (hoặc các xét nghiệm hình ảnh khác) hoặc khám sức khỏe không phát hiện sự lây lan xa của khối u.
cM0(i+): Một số lượng nhỏ tế bào ung thư được phát hiện thấy trong máu hoặc tủy xương (chỉ được tìm thấy bằng các xét nghiệm đặc biệt), hoặc các vùng ung thư xâm lấn nhỏ (không lớn hơn 0,2 mm) được phát hiện trong các hạch bạch huyết cách xa dưới cánh tay, xương đòn, hoặc các khu vực bên trong tuyến vú.
M1: Ung thư đã di căn đến các cơ quan ở xa (thường là đến xương, phổi, não hoặc gan).
Các mẫu sử dụng hệ thống giai đoạn mới
Mẫu #1
Nếu kích thước ung thư từ 2 đến 5 cm (T2) nhưng chúng chưa lan đến các hạch bạch huyết lân cận (N0) hoặc đến các cơ quan ở xa (M0) VÀ là:
- Grade 3 (tế bào ung thư phát triển nhanh và xâm lấn nhiều hơn).
- HER2 âm tính.
- ER dương tính.
- PR dương tính.
Giai đoạn ung thư là IB.
Mẫu #2
Nếu ung thư lớn hơn 5 cm (T3) và đã di căn đến 4 đến 9 hạch bạch huyết dưới cánh tay hoặc đến bất kỳ hạch bạch huyết bên trong tuyến vú (N2) nhưng chưa đến các cơ quan ở xa (M0) VÀ là:
- Grade 2 (Phân độ trung gian).
- HER2 dương tính.
- ER dương tính.
- PR dương tính.
Giai đoạn ung thư là IB.
Mẫu #3
Nếu ung thư lớn hơn 5 cm (T3) và đã di căn đến 4 đến 9 hạch bạch huyết dưới cánh tay hoặc đến bất kỳ hạch bạch huyết bên trong tuyến vú (N2) nhưng chưa đến các cơ quan ở xa (M0) VÀ là:
- Grade 2 (Phân độ trung gian).
- HER2 âm tính.
- ER âm tính.
- PR âm tính.
Giai đoạn ung thư là IIIB.