Chế độ ăn uống cho người bệnh Gout

Chế độ ăn uống cho người bệnh Gout

Muốn hiểu bệnh Gout trước tiên chúng ta nên biết acid uric được tạo thành như thế nào.

Ước tính khoảng trên 8 triệu người Việt Nam bị bệnh gout. Trong đó khoảng 0,3% người trưởng thành đã mắc bệnh GOUT, chủ yếu ở nam gIới. Mức tuổi phổ biến đã nới rộng từ trên 40 xuống 20-60. Cá biệt đã xuất hiện những trường hợp dưới 20 tuổi đã bị gout.

l. HÓA SINH TRONG CHUYỂN HÓA PURIN VÀ SỰ TẠO THÀNH ACID URIC

Chuyển hóa purin và sự tạo thành acid uric

Acid uric là sản phẩm cuối cùng của quá trình thoái biến purine. Là một acid yếu nên thường bị ion hóa thành muối urat hòa tan trong huyết tương. Đại đa số tồn tại dưới dạng monosodium urate. Giới hạn hoà tan của muối urat khoảng 6,8 mg/dL ở nhiệt độ 37C. Ở nồng độ cao hơn các tỉnh thể urate sẽ bị kết tủa. Tuy nhiên, trong một số trường hợp các tinh thể urate không bị kết tủa, phải chăng do ảnh hướng của một số chất hòa tan trong huyết thanh.

Phần lớn acid uric trong máu ở dạng tự do, chỉ khoảng < 4% gắn với protein huyết thanh.

Nồng độ acid uric máu trung bình ở nam: 5,1 + 1,0 mg/dL (420 umol/lít) nữ 4,0 + 1mg/dL (360 umol/lit). Khi nồng độ acid uric máu vượt qua giới hạn trên được coi là có tăng acid uric. Bình thường quá trình tổng hợp và bài tiết acid uric ở trạng thái cân bằng. Tổng lượng acid uric trong cơ thể có khoảng 1200 mg (ở nam), 600mg (ở nữ) Khoảng 2/3 tổng lượng acid uric được tổng hợp mới và cũng với số lượng tương tự đào thải chủ yếu qua thận.

Trong nước tiểu, acid uric hòa tan dễ dàng hơn trong nước. pH nước tiểu ảnh hưởng lớn đến sự hòa tan acid uric, bình thường lượng acid uric thải qua nước tiểu là trên 800mg/ngày. Do vậy, pH càng kiềm càng thuận lợi cho việc thải acid uric và ngược lại nước tiểu cảng toan thì khó khăn cho việc đào thải acid uric.

- pH 5,0: acid uric bảo hòa với nồng độ từ 390-900 umol/L

- pH 7,0: acid uric bảo hòa với nồng độ từ 9480-12000 umol/L

CẤU TẠO ACID URIC

Cấu tạo của acid uric

Sơ đồ tóm tắt quá trÌnh tổng hợp acid uric ở người

 

1: Amidophoribosyl ferase.

2: Hypoxanthine-guanine phospho ribosyl transferase.

3: Phosphoribosyl-pyrophosphat synthetase- (PRPP synthetase).

4: Adenine-phosphoribosyl transferase.

5: Adenosine deaminase.

6: Purine-nucleoside phosphorylase.

7: Nucleotidase.

8: Xanthine oxydase.

II. NGUYÊN NHÂN BỆNH GOUT

Bệnh Gout bị gây ra do quá nhiều acid uric trong máu (còn gọi là đa acid uric): trên 420 mol/L (ở nam) hay 380 mol/L (ở nữ). Đa acid uric thường thì vô hại, và đa số người có độ acid uric trong máu cao không phát triển thành bệnh Gout. Nguyên nhân chính của chứng đa acid uric đôi khi không phát hiện được, mặc dù các yếu tố di truyền dường như cũng có ảnh hưởng. Khi mức acid uric trong máu quá cao, acid uric có thể kết tủa thành các tinh thể (dài hình kim, đầu nhọn) tích tụ trong khớp xương. Bệnh Gout hình như bộc phát không có nguyên nhân cụ thể, hoặc gây ra do: 

1. Những điều kiện liên quan đến chế độ ăn và trọng lượng cơ thể như:

- Béo phì (14kg trên mức cân lý tưởng).

- Uống rượu, nhất là bia, từ mức trung bình đến rất nhiều (trên 2 ly/ngày đối với nam, 1 ly đối với nữ). Rượu làm tăng dị hóa các nucleotid có nhân purin, làm tăng dị hóa ATP thành AMP, hạn chế bài tiết urat qua nước tiểu, làm mất nước nên tăng quá trình tinh thể hóa các urat cũng như rượu còn bổ sung thêm một lượng purin.

- Chế độ ăn nhiều thịt và đồ biển (chứa nhiều purine).

- Chế độ ăn kiêng rất ít ca-lô-ri.

2. Quá trình trị liệu bệnh khác có thể làm tăng mức tập trung acid uric như: 

- Thường dùng aspirin hay niacin (1-2 viên/ngày)
- Thuốc làm giảm lượng muối và nước trong cơ thể (như thuôc xổ tiểu làm giảm huyết áp),
- Trị liệu làm tế bào chết nhanh chóng (ví dụ, xạ trị điều trị ung thư)
- Thuốc khống chế hệ miễn nhiễm như cyclosporin, dùng để ngăn cơ thể không phản ứng với 1 bộ phận ghép.

3. Bệnh nặng hay các tỉnh trạng sức khỏe như

- Sút cân nhanh, như ở các bệnh nhân trong bệnh viện thay đổi chế độ ăn hay thuốc uống:

- Bệnh thận mạn tính

- Cao huyết áp

- Những điều kiện gây ra mức sản sinh tế bào bất thường như: psoriasis, multiple myeloma, hemolytic anemia, hay ung bướu;

- Nhiễm độc chì;

- Thiểu năng tuyến giáp.

4. Sinh ra với tình trạng hiếm có gây cao acid uric trong máu

Những người bị hội chứng Kelley-Seegmiller hay Lesch- Nyhan bị thiểu năng 1 phần hay toàn phần trong 1 phân hóa tố giúp kiểm soát mức acid uric.

Những tinh thể kết tủa còn có thể gây ra 1 chứng khác, gọi là Gout giả. Nhưng thay vì gồm có acid uric, tinh thể Gout giả lại được tạo thành từ dihydrat pyrophosphat calci. Và trong khi Gout giả có thế tấn công ngón chân cái, nó thường tấn công những khớp to như đầu gối, cổ tay, và khớp bàn chân (ở mắt cá).

Những yếu tố dưới đây (ngoài những gì đã nêu ở phần “nguyên nhân”) có thể hoặc là gây ra đa acid uric hoặc làm khớp để bị đóng acid uric: Nam (40-50 tuổi); nữ sau mãn kinh. Tiên sử gia đình bị bệnh Gout (nguy cơ 20%). Thường bị mất nước. Tổn thương khớp. Xơ vữa động mạch. Bệnh tim. Tiểu đường. Cao cholesterol (mỡ trong máu). Hẹp động mạch.

5. Các quan niệm mới về gen

Các khoa học gia tại đơn vị MRC Human Genetics đã nghiên cứu về bệnh này và khám phá ra rằng gene với ký hiệu SLC2A „ có thể làm cho cơ thể khó thải chất acid uric ra khỏi máu. Giáo sư Alan Wright, hiện đang hướng dẫn công trình nghiên cứu này, nói: “Gene này là một nhân tố then chốt trong việc chuyển tải acid uric qua các vùng khác nhau của thận”. Đồng nghiệp của ông là giáo sư Harry Campbell nói : “Một số người có nguy cơ cao hơn hoặc thập hơn mắc phải bệnh gút tùy theo gene mà họ thừa hưởng”. Phát hiện này sẽ giúp cho việc phát triển các phương thức tốt hơn để chẩn đoán bệnh gút.

III. TRIỆU CHỨNG BỆNH GOUT

Bệnh Gout thường phát ra sau 1 số năm tích tụ tinh thể acid uric trong khớp và các mô bao quanh.

1. Triệu chứng gout bao gồm

Nóng, đau, sưng, và rất mềm ở 1 khớp, thường là 1 ngón chân cái. Triệu chứng này gọi là podagra.

Cơn đau bắt đầu trong đêm và nhiều đến mức chỉ cần tấm drap trải giường chạm nhẹ vào cũng đau không chịu nổi.

Sự khó chịu tăng nhanh, kéo dài mấy giờ trong đêm rồi giảm trong 2-7 ngày sau đó.

Khi cơn Gout giảm, lớp da quanh khớp bị đau có thể tróc ra hay ngứa.

Các triệu chứng khác có thể gồm: da rất đỏ hay hơi tím quanh khớp bị đau, có vẻ bị nhiễm trùng: sốt; cử động khớp hạn chế,

Triệu chứng Gout thay đổi: Triệu chứng có thể có sau 1 cơn bệnh hay giải phẫu; một số người có thể không bị Gout với những cơn đau mà là Gout mạn tính. Gout mạn tính ở những người lớn tuổi có thể ít đau hơn và có thể bị nhầm với các loại viêm khớp khác; bệnh Gout có thể xuất hiện như những cục trên bàn tay, khuỷu tay, hay tai. Có thể không có những triệu chứng thông thường.

Đến lúc bạn thấy những triệu chứng của Gout, thì acid uric đã tích tụ trong máu và kết tủa acid uric đã có trong 1 hay nhiều khớp rồi.

Ngón chân cái thường bị nhất; tuy nhiên, khớp bàn chân, mắt cá, đầu gối, cổ tay, ngón tay và khuỷu tay cũng có thể bị. Sưng túi dịch đệm các cơ có thể thấy, nhất là ở khuỷu tay và đầu gối.

2. Vai trò của acid uric trong viêm khớp

Trong bệnh Gout, tính thể urat monosodic lắng đọng ở màng hoạt dịch sẽ gây nên một loạt các phản ứng:

- Hoạt tác yếu tố Hageman tại chỗ từ đó kích thích các tiền chất gây viêm Kininogen và Kallicreinogen trở thành kinin và kallicrein gây phản ứng viêm ở màng hoạt dịch.

- Từ phản ứng viêm, các bạch cầu sẽ tập trung tới, bạch cầu sẽ thực bảo các vi tinh thể urat rồi giải phóng các men tiêu thể của bạch cầu (Iysozim). Các men này cũng là một tác nhân gây viêm rất mạnh.

- Phản ứng viêm của màng hoạt dịch sẽ làm tăng chuyển hóa, sinh nhiều acid lactic tại chỗ và làm giảm độ pH, môi trường càng toan thì urat càng lắng đọng nhiều và phản ứng viêm ở đây trở thành một vòng khép kín liên tục, viêm sẽ kéo dài. Do đó, trên thực tế thấy hai thể bệnh Gout: thể bệnh Gout cấp tính, quá trình viêm diễn biến trong một thời gian ngắn rồi chấm dứt, hay tái phát. Thê bệnh Gout mạn tính, quá trình lắng đọng urat nhiều và kéo dài, biểu hiện viêm sẽ liên tục không ngừng.

Những cơn đau nhẹ có thể dừng sau vài giờ hay kéo dài 1-2 ngày. Những cơn đau này thường bị chẩn đoán sai là “bong gân” dù rằng không bị tổn thương nặng hay vận động quá nhiều.

Cơn đau nặng có thể kéo dài đến nhiều tuần, đau có thể đến cả tháng.

Đa số những người bị cơn đau thứ nhì trong vòng 6 tháng đến 2 năm sau lần thứ nhất, nhưng khoảng cách giữa những cơn đau có thể là nhiều năm. Nếu không chữa trị, khoảng cách sẽ giảm theo thời gian. Tuy nhiên, một số người không bao giờ bị đau lần 2.

3. Bệnh Gout có 4 giai đoạn 

a. Giai đoạn 1

: độ uric trong máu cao (không triệu chứng).

b. Giai đoạn 2:

viêm khớp cấp tính.

Các tỉnh thể acid uric bắt đầu tích tụ trong chất dịch ở khớp, thường là 1 khớp (phổ biến nhất là ngón chân cái) và cơ thể phản ứng sưng đột ngột: đó là cơn đau Gout.

Khoảng 10-25% người bị Gout sẽ bị sỏi thận.

Khoảng 10-40% người bị Gout có sỏi thận trước khi bị cơn đau khớp.

Sau cơn đau, khớp bị đau và các mô xung quanh cảm thấy bình thường trong vòng vài ngày cho đến khi bị lần tiếp theo, thường xảy ra trong vòng 2 năm.

c. Giai đoạn 3

: đau cách khoảng

Nếu bạn đã từng bị cơn đau Gout, bạn rất có thể bị một cơn nữa.

Ở bệnh này, bạn không thấy triệu chứng trong thời gian giữa 2 lần đau.

Ở nhiều người, giai đoạn này tiên triển chậm khi các cơn đau xảy ra thường hơn. Những cơn sau có thể đau hơn, lâu hơn và ở nhiều khớp hơn.

d. Giai đoạn 4:

Gout mạn tính

Nếu triệu chứng Gout tái đi tái lại mà không điều trị trong 10 năm hay lâu hơn, chúng có thể trở thành mãn tính và thường tấn công nhiều khớp hơn. Có thể không còn khoảng cách giữa các cơn đau. Giai đoạn này thường bị nhằm với các dạng viêm khớp khác, nhất là viêm xương khớp.

Đến lúc này, đã đủ tinh thể acid uric tích tụ trong cơ thể để tạo thành những cục trông giống phấn bảng gọi là tophi. Khi ở dưới da, những cục này thường cứng và chạy tới chạy lui. Lớp da trên đó có thể mỏng và đỏ. Những cục tophi sát da có thể có màu kem hay vàng.

Ban đầu, các cục tophi thường thấy ở hay gần khuỷu tay, trên ngón tay, ngón chân, hay trên vành ngoài của tai.

Nếu tình trạng cứ tiễn triển mà không chữa trị, cục tophi có thể xuất hiện ở lớp sụn của tai hay các mô quanh khớp (túi dịch, dây chằng và gân), gây đau đớn, sưng, đỏ, nóng (viêm). Có thể tàn tật, cũng như sụn và xương bị hủy hoại.

May thay, những tấn công trong cách điều trị sớm đã làm cho giai đoạn này thực tế ít xảy ra.

IV. CHẨN ĐOÁN BỆNH GOUT 

Các xét nghiệm cần làm:

Cách duy nhất để chẩn đoán bệnh Gout là xét nghiệm chất dịch ở khớp để xem có các tinh thể acid uric không. Tuy nhiên, ở những người bị ngón chân cái sưng cấp tính, đỏ và đau, thì thường khó lấy được dịch khớp.

Những kiểm tra và xét nghiệm sau đây có thể giúp chẩn đoán và điều trị bệnh Gout: tiền sử y lý & thể lực; xét nghiệm đo mức acid uric trong máu; xét nghiệm đo mức acid urIc trong nước tiểu.

Trong khi chiếu X-quang các đầu chi (bàn tay, bàn chân) đôi khi giúp chân đoán ở các giai đoạn cuối, thường thì X-quang không giúp chân đoán bệnh Gout ở thời kỳ đâu. Ở giai đoạn cuối, các cục tophi hay cả các chỗ xương thoái hóa gần khớp có thể trông thấy. cơn đau Gout thường khiến người bệnh đi bác sĩ trước khi những thay đổi lâu dài có thể phát hiện được băng X- quang. Tuy thế, X-quang có thể giúp loại bỏ các nguyên nhân gây viêm khớp khác.

V. CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH GOUT

Mục tiêu điều trị Gout là giảm đau nhanh và phòng những cơn đau sau này cùng những tiến triển lâu dài, như hỏng khớp và hư thận. Điều trị gồm có thuốc và các bước thực hiện ở nhà để ngăn chặn những cơn đau sau này.

Trị liệu ban đầu

Trị liệu bệnh Gout với thuốc nhằm giảm các triệu chứng và các biện pháp loại bỏ nguyên nhân gây bệnh. Liệu pháp cụ thể còn tùy bạn đang bị cơn đau cấp tính hay đang ngăn ngừa các cơn đau sau.

1. Đề giảm đau, sưng, đỏ và nóng ở khớp bị đau trong cơn tấn công cấp tính

- Cho khớp bị đau được nghỉ.

- Uống 1 hay nhiều loại thuốc sau đây ngay khi có dấu hiệu đầu tiên của cơn đau. theo toa bác sĩ:

+ Các loại thuốc chống viêm không có steroid như ibuprofen (như thuốc cảm Advil, Motrin, ...), naproxen (như AIeve,....) hay indomethacin. Hãy lưu ý rằng những loại thuốc này có thể gây ra tác dụng phụ, gồm cả đau bao tử, xuất huyết và loét bao tử. Hơn nữa, các thuốc này có tác dụng nóc giới hạn của tác dụng giảm đau. Điều này có nghĩa là trên liều lượng tối đa, thì thuốc cũng không có thêm tác dụng giảm đau. Ngoài ra, nên tránh uống aspirin vì nó có thể gây ra thay đổi đột ngột về mức acid uric trong máu và làm bệnh tệ hơn.

+ Colchicin.

+ Corticosteroid (ví dụ như prednison).

+ Mặc dù các loại steroid có thể làm giảm đau rõ rệt, chúng cũng có thể gây ra tác dụng phụ, kể cả loãng xương, chậm lành vết thương và suy giảm hệ miễn dịch. Đôi khi bác sĩ tiêm cortisone vào khớp đau. Nhưng cách này vần có thể gây ra tác dụng phụ và tiêm thì không quá 3 mũi một năm.

+ Probenecid, sulfinpyrazon.

+ Kích thích tô adrenocorticotropic.

Một khi cơn đau cấp tính đã qua, bác sĩ có thể đề nghị trị liệu phòng ngừa để làm chậm lại hay tăng lên tốc độ cơ thể sản sinh ra acid uric.

2. Điều chỉnh chế độ ăn uống cho người bị bệnh Gout

Vì béo phì có thể liên quan đến mức acid uric cao, bác sĩ thường chỉ định chế độ ăn uống đặc biệt đề giúp giảm/kiểm soát trọng lượng cơ thể. Nhưng kiêng cữ hay áp dụng chế độ ăn uống quá nghiêm ngặt có thể nâng mức acid uric và làm bệnh Gout tệ thêm.

Đa số bệnh nhân Gout có thể ăn những gì mình thích, trong giới hạn. Những người bị sỏi thận do acid uric có thể cần tránh hay giới hạn những thực phẩm (có nhiều purin) làm tăng mức acid uric như: cá mòi, cá cơm, cá trích, sò ốc (như: paua, pipi, hến, trai), trứng cá, sò điệp, nước hầm xương, nước sốt (lấy từ lò nướng), óc, cật, gan, tim, lưỡi, bao tử, phèo/lá lách, và thịt đỏ (như thịt bò/cừu; nhất là thịt quay/nướng), măng tây, nấm, đậu Hà Lan, đậu lentil, và đậu ve. Hầu hết mọi người mỗi ngày chỉ nên ăn khoảng 150-200g thịt nạc heo/bò, thịt gà, hay cá. Những bệnh nhân Gout có thể uống cà phê và trà, nhưng cần phải giới hạn mức cồn (nhất là bia và rượu). Để tống các tinh thể acid uric ra khỏi cơ thể, bệnh nhân Gout nên uống mỗi ngày ít nhất 10-12 ly nước lã hay nước giải khát không cồn (loại ly thấp 1/4 lít).

Thực đơn cho một bệnh nhân Gout nặng 60kg được tính năng lượng ở mức thấp như sau: 20kcal x 60kg = 1800 keal. Trong đó đạm protein 11% tông năng lượng (thêm từ trứng, sữa, phomat, lạc). Lipid 21% dùng bơ mỡ, dầu thực vật. Glucid 60% từ gạo lức, khoai củ, rau quả tùy thích, nước 2 lít/ngày, bỏ rượu.

Thay đổi loại thuốc trị cao huyết áp, nếu có uống.

3. Đề ngăn ngừa cơn đau tái phát

+ Uống những loại thuốc làm giảm mức acid uric trong máu:

- Thuốc giúp thận tăng sự ức chế acid uric: như benzbromarone, probenecid (Benemid), sulfinpyrazon.

- Allopurinol làm giảm mức cơ thể sản sinh acid uric.

- Colchicines thường được chỉ định đề ngừa cơn đau bộc phát trong những tháng đầu bạn dùng thuốc hạ acid uric.

+ Theo các bước để giảm nguy cơ tái phát:

- Thừa cân là 1 yếu tố dễ mắc bệnh Gout. Nếu bạn thừa cân, 1 chế độ ăn ít dầu mỡ có thể giúp bạn giảm cân. Tuy nhiên, các chế độ ăn kiêng quá ít ca-lô-ri lại làm cơ thể tăng lượng acid uric và có thể gây ra cơn đau Gout.

- Chất cồn có thể làm thận giảm bài tiết acid uric ra nước tiểu, làm tăng mức acid uric trong cơ thể. Bia, rất giàu chất purin, hình như có hại hơn một số thức uống có côn khác.

- Các chế độ ăn nhiều thịt và đồ biển (là những thực phẩm giàu purin) có thể làm tăng mức acid uric.

- Một số thuốc có thể được chỉ định cho các bệnh khác lại làm giảm mức thải acid uric của thận. Gồm có các loại thuốc viên giảm muối và nước trong cơ thê, niacin, hoặc thường xuyên dùng aspirin. Trao đổi với bác sĩ về các loại thuốc khác có cùng hiệu quả nhưng an toàn hơn đối với bệnh Gout.

+ Theo 1 chương trình thể dục vừa phải.

Đa số bệnh nhân Gout sẽ phải uống thuốc giảm acid uric suốt đời. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, một số người có thể giảm mức acid uric đến bình thường bằng cách kiểm soát trọng lượng của mình, không uống rượu, và tránh dùng 1 số thuốc cho các bệnh khác.

Khi mức acid uc trong máu cao nhưng không có triệu chứng đau, thì trị liệu là không cần thiết ở những người khỏe mạnh. Tuy nhiên, những người có mức acid uric quá cao có thể phải thường xuyên xét nghiệm để xem dấu hiệu tổn thương thận, và cần trị liệu lâu dài để giảm mức acid uric cho đến mức bình thường.

4. Trị liệu Gout  kéo dài

Nếu đã bị 1 cơn đau Gout, có nhiều khả năng bị lại, nhất là nếu không dùng thuốc hay các trị liệu khác. Mục tiêu trị liệu là ngăn ngừa các cơn tái phát sau này, giảm mức acid uric, và phát hiện cũng như điều trị các nguyên nhân gây cao acid uric.

5. Ngăn ngừa cơn đau Gout

Không có cách nào đảm bảo ngăn ngừa các cơn Gout đầu tiên hay sau đó, nhưng nếu bạn đã bị Gout, bác sĩ có thể chỉ định thuốc giảm nguy cơ hoặc mức độ trầm trọng của những cơn tái phát. Thuốc bao gồm allopurinol (như Zyloprim, Aloprim) và probenecid. Uống hàng ngày, chúng có thể làm chậm lại mức sản sinh và tăng mức thải acid uric. Nói chung, giữ cho mức acid uric trong giới hạn trung bình là then chốt về lâu về dài trong việc ngăn chặn Gout (tham khảo tài liệu của Trần Thị Thái).

6. Thực phẩm dinh dưỡng đẩy lùi bệnh gout

Có thể nói nguyên nhân trực tiếp gây bệnh gút (thống phong) là acid uric. Một trong những biện pháp phòng chống acid uric trong máu tăng cao là dùng các thực phẩm không hoặc ít có nhân purin và có công dụng tăng cường đào thải acid uric qua đường tiết niệu.

Có thể dẫn ra một số thực phẩm thông dụng như sau:

Rau cần:

cần trồng dưới nước tính mát, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt lợi thủy. Cây trồng trên cạn tính mát, vị đắng ngọt, có công dụng thanh nhiệt, khu phong và lợi thấp. Có thể dùng cả hai loại, đặc biệt tốt trong giai đoạn gout cấp tính. Rau cần giàu các vitamin, khoáng chất và hầu như không chứa nhân purin. Có thể ăn sống, ép lấy nước uống hoặc nấu canh ăn hằng ngày.

Súp lơ:

là một trong những loại rau giàu vitamin C và chứa ít nhân purin (mỗi 100g chỉ có dưới 75mg). Theo dinh dưỡng học cỗ truyền, súp lơ tính mát, vị ngọt, công dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, thông tiện nên là thực phẩm thích hợp cho người có acid uric máu cao.

Dưa chuột:

là loại rau kiềm tính, giàu vitamin C, muối kali và nhiều nước. Muối kali có tác dụng lợi niệu nên người bị gout cần ăn nhiều dưa chuột. Theo dinh dưỡng học cổ truyền, dưa chuột tính mát, vị ngọt, công dụng thanh nhiệt lợi thủy, sinh tân chỉ khát và giải độc nên có khả năng bài tiết tích cực acid uric qua đường tiết niệu.

Cải xanh:

cũng là loại rau kiềm tính, giàu vitamin C, muối kali và hầu như không chứa nhân purin. Cải xanh có tác dụng giải nhiệt trừ phiền, thông lợi tràng vị. Sách Trấn nam bản thảo cho răng cải xanh còn có tác dụng lợi tiểu, rất thích hợp với người bị bệnh gout.

Cà:

cà pháo, cà bát, cà tím... đều có tác dụng hoạt huyết tiêu thũng, khứ phong thông lạc, thanh nhiệt chỉ thống. Đây cũng là loại thực phẩm kiềm tính và hầu như không chứa nhân purin. Nghiên cứu hiện đại cho thấy cà còn có tác dụng lợi niệu ở một mức độ nhất định.

Cải bắp:

là loại rau hầu như không có nhân purin, rất giàu vitamin C và có tác dụng lợi niệu. Sách Bản thảo cương mục thập di cho rằng cải bắp có công dụng "bổ tinh tủy, lợi ngũ tạng lục phủ, lợi quan tiết (có ích cho khớp), thông kinh hoạt lạc” nên là thực phẩm rất tốt cho người có acid uric trong máu cao.

Củ cải:

tính mát, vị ngọt, có công dụng lợi quan tiết, hành phong khí, trừ tà nhiệt (Thực tính bản thảo), trừ phong thấp (Tùy tức cư ẩm thực phố), rất thích hợp với người bị phong thâp nói chung và thống phong nói riêng. Đây cũng là loại rau kiềm tính, giàu vitamin, nhiều nước và hầu như không có nhân purin.

Khoai tây:

là một thực phẩm kiềm tính, giàu vitamin C và muối kali. Trong thành phần hóa học hầu như không có nhân purin.

Bí đỏ:

tính ấm, vị ngọt, công dụng bổ trung ích khí, giảm mỡ máu và hạ đường huyết, là loại thực phẩm kiềm tính và hầu như không chứa nhân purin, lý tưởng cho người bị cao huyết áp, rối loạn lipid máu, béo phì và tăng acid uric trong máu.

Bí xanh:

tính mát, vị ngọt đạm, có tác dụng thanh nhiệt tiêu đàm, lợi tiểu tiện, giải độc, giảm béo. Là loại thực phẩm kiềm tính, nhiều nước, giàu vitamin (đặc biệt là vitamin C) và chứa rất ít nhân purin, có khả năng thanh thải acid uric qua đường tiết niệu khá tốt.

Dưa hấu:

tính lạnh, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát và lợi tiểu tiện. Trong thành phần có chứa nhiều muối kali, nước và hầu như không có nhân purin. Đây là loại quả đặc biệt tốt cho những người bị Gout giai đoạn cấp tính.

Đậu đỏ:

còn gọi là xích tiểu đậu, tính bình, vị ngọt chua, có công dụng kiện tỳ chỉ tả, lợi niệu tiêu thũng. Trong thành phần hóa học của đậu đỏ hầu như không có nhân purin, là thực phẩm rất tốt cho bệnh nhân bị bệnh gút.

Lê và táo:

hai loại quả tính mát, vị ngọt, công dụng thanh nhiệt sinh tân, chỉ khát trừ phiên. Trong thành phần có chứa nhiều nước, vitamin, muối kali và hầu như không có nhân purin. Là loại quả kiềm tính, dùng rất tốt cho bệnh nhân bị bệnh gout cấp tính và mãn tính.

Nho:

tính bình, vị ngọt, công dụng bổ khí huyết, cường gân cốt và lợi tiểu tiện. Đây cũng là loại quả kiềm tính, nhiều nước, giàu vitamin và hầu như không có nhân purin.

Sữa bò:

là loại thực phẩm bổ dưỡng giàu chất đạm, nhiều nước và chứa rất ít nhân purin. Là thứ nước uống lý tưởng cho bệnh nhân bị bệnh gout cả cấp tính và mãn tính.

Đậu tương:

có thể là đậu tương và các chế phẩm từ đậu tương, là các thực phẩm kiềm tính, chứa ít nhân purin, giàu chất đạm, nhiều vitamin và khoáng chất, có khả năng tăng cường bài xuất acid uric qua đường tiết niệu.

Ngoài ra, người có acid uric máu cao cũng nên trọng dụng các thực phẩm khác như cà rốt, cà chua, măng, mướp, dưa gang, cải trắng, mã thầy, hành tây, mía, chuối, cam, quýt, đào, anh đào, mơ, hạt dẻ... Tăng lượng nước uống để kích thích thải acid uric ra ngoài.

Kiêng rượu thịt

Trong cơ thể, acid uric được tạo thành từ ba nguồn: thoái giáng từ các chất có nhân purin do thức ăn đưa vào, thoái giáng các chất có nhân purin từ trong cơ thể và tổng hợp các purin từ con đường nội sinh.

Do đó, người có acid uric máu cao nên kiêng hoặc hạn chế các thực phẩm chứa nhiều nhân purin như phủ tạng động vật (gan, thận, não, tụy...), thịt (lợn, dê, bò, cừu, gà, vịt, ngan,
ngông), thịt hun khói, chim cút, cá chép, cá chạch, cá thờn bơn, cá hồi, lươn, nghêu, sò, cua, rau chân vịt, rau câu, đậu Hà Lan, nấm, biến đậu... Không dùng các đồ ăn thức uống có tính kích thích như trà đặc, cà phê, rượu trắng, hạt tiêu, hồi, quế, ớt...

Người bị gout nặng, acid uric máu tăng quá cao nên ăn chay theo chu kỳ như ngày ăn táo, ngày ăn dưa chuột, ngày ăn rau xanh để hỗ trợ điều trị bệnh. Nếu ăn táo hoặc dưa chuột mỗi ngày dùng 1,5kg, chia thành 3-4 bữa. Nếu ăn rau xanh mỗi ngày 1,5kg chia thành nhiều bữa dưới các dạng nấu, xào.

Các câu hỏi liên quan