Cải trời

Cải trời

Cải trời, Cải ma, Kim đầu tuyến - Blumea lacera (Burm.f.) DC., thuộc họ Cúc — Asteraceae.

Mô tả Cải trời:

Cải trời là dạng cây thảo mọc hằng năm; thân cao 0,4-1m, phân cành nhiều, phủ lông dày. Lá mọc so le, phiến lá hình bầu dục, dài 8-10cm, rộng 3-4,5cm, chóp tù, mép có răng cưa không đều; gân bên 5-6 đôi, hai mặt phủ đầy lông như nhung.

Cải trời có cụm hoa chung dạng chùy dài ở nách lá và ở ngọn cây; cụm hoa đầu có đường kính 5-6mm, trên cuống 1cm, phủ lông dày. Tổng bao có 3-4 hàng lá bắc hình dải, phủ lông dày và có tuyến. Hoa đầu có tràng dạng ống; ở hoa lưỡng tính, tràng hoa có 5 thuỳ ở đỉnh; ở hoa cái tràng có 2-3 thuỳ ở đỉnh. Gốc bao phấn có tai ngắn hơn chỉ nhị. Quả bế dài 1mm, có 10 gờ dọc; mào lông trên đỉnh quả dài 4mm, màu trắng.

Sinh thái Cải trời:

Cải trời mọc ở ven rừng, các trảng cỏ, dọc đường đi ở các nương rẫy bỏ hoang, từ vùng thấp lên đến độ cao 1200m. Ra hoa kết quả từ tháng 2 đến tháng 11.

Phân bố Cải trời:

Rất phổ biến ở nước ta, từ Sơn La, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hoà Bình, Hà Nội vào Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Lâm Đồng, Khánh Hoà cho đến Đồng Tháp.

Còn có ở Ấn Độ, Nêpan, Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia, Nuven Calêđôni.

Bộ phận dùng của Cải trời:

Toàn cây - Herba Blumeae Lacerae.

Khi dùng làm thuốc, nhổ cả cây vào mùa khô, đem rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô trong râm.

Thành phần hoá học của Cải trời:

Cây Cải trời chứa 0,085% tinh dầu màu vàng mà trong thành phần có 66% cineol, 10% fenchon và khoảng 6% citral.

Tính vị, tác dụng của Cải trời:

Cải trời có vị đắng, mùi thơm, tính bình, có tác dụng thanh can hoả, giải độc tiêu viêm, tán uất, tiêu hòn cục, cầm máu, sát trùng.

Ở Ấn Độ, người ta cho là cây đắng, hạ sốt; dịch lá trừ giun, thu liễm, hạ nhiệt, kích thích và lợi tiểu; rễ trừ tả.

Công dụng làm thuốc của Cải trời:

Lá Cải trời tươi có mùi thơm, thường được thu hái làm rau luộc ăn hoặc nấu canh với tép, với cá.

Ở Gia va, người ta cũng dùng chồi non nấu canh ăn. Người ta dùng toàn cây làm thuốc trị tràng nhạc, nhọt lở, cầm máu vết thương, trị băng huyết, chảy máu cam. Cũng dùng trị tức ngực, yếu phổi, ho có đờm, táo bón, mất ngủ, đái vàng và nóng.

Ở Ấn Độ, người ta dùng lá để trị đau bụng và để lọc sạch nước uống. Ở Malaixia, người ta dùng cây để xua đuổi sâu bọ nhờ tinh dầu thơm.

Ở Nuven Calêđôni, rễ cây dùng cầm máu và lá dùng chữa thương, được sử dụng và điều trị đụng giập. Còn ở Ấn Độ, người ta dùng cây để trục giun.

Ở một số nơi, người ta dùng cây giã ra vứt xuống nước để làm thuốc duốc cá.

Liều dùng hàng ngày là 10-30g, dạng thuốc sắc. Dùng riêng hoặc phối hợp với Bồ công anh, Kim ngân hoa, lá Sen, cành Tầm duột, Ngũ gia bì, Cam thảo. Cũng có thể nấu thành cao sệt, uống lâu ngày, mỗi ngày độ 2 thìa canh pha với nước; dùng ngoài làm cao dán.

Các câu hỏi liên quan